Blog

9 sự thật cần biết về rượu vang Ý

0

Ý luôn nổi tiếng về ẩm thực và rượu vang, cả hai đều đóng một phần quan trọng trong bản sắc và văn hóa của đất nước Ý. Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi nhiều người trong chúng ta thích nếm một hoặc hai ly rượu vang Ý. Nhưng, uống rượu vang và hiểu gốc rễ của nó là hai điều khác nhau. Vì vậy, hãy để chúng tôi dẫn bạn đi một chuyến hành trình khám phá 09 sự thật cần biết về rượu vang Ý.

Rượu vang Ý – Italian wine
1. Ý sản xuất nhiều rượu vang hơn bất kỳ nước nào khác:
Sản xuất rượu vang Ý có thể đã giảm đáng kể trong năm ngoái, nhưng Ý vẫn giữ vị trí đầu tiên (theo sát là nước Pháp) trong sản xuất rượu vang. Tính đến năm nay, 3.900 lít rượu vang đáng kinh ngạc đã được sản xuất từ Ý.
2. Rượu vang Ý có một lịch sử lâu đời:
Rượu vang Ý đã được sản xuất trong hơn 4.000 năm và được coi là môi trường hoàn hảo để trồng nho, phần lớn là do khí hậu đất nước (rất phù hợp với nghề trồng nho). Trên thực tế, khi người Hy Lạp lần đầu tiên bước chân vào miền Nam nước Ý, rượu vang đã trở thành một phần trong lối sống hàng ngày của người Ý, phổ biến đến nỗi, đất nước này được gọi là ‘Oenotria” – vùng đất rượu vang.
3. Chất lượng đặc biệt cao:
Người Ý tự hào về việc trồng nho và sản xuất rượu vang. Kết quả là, 2/3 rượu vang của đất nước thuộc phân hạng DOP (39%) hoặc IGP (30%). Cả hai phân hạng đều hứa hẹn một chai rượu vang có tính xác thực nguồn gốc và chất lượng.
4. Luôn có một loại nho để bạn lựa chọn:
Ý đang phát triển và sử dụng hơn 400 loại nho để sản xuất nhiều loại rượu vang mà họ làm ngày nay. Ba loại nho hàng đầu của Ý về mức độ sản xuất theo khu vực: Sangiovese, Trebbiano, Montepulciano.
5. Veneto: trái tim của rượu vang Ý:
Là một trong những điểm du lịch lãng mạn và nổi tiếng nhất của Ý, Veneto cũng nổi tiếng là khu vực sản xuất rượu vang lớn nhất nước này. Trong năm 2016, khu vực này đã sản xuất hơn 1000 lít rượu vang, vượt xa đối thủ cạnh tranh gần nhất.
Vang ý Contrada Del Falco
Vang ý Contrada Del Falco
Vang ý LEVERANO RISERVA 750ml
Vang ý LEVERANO RISERVA 750ml
Vang ý Barocco Reale
Vang ý Barocco Reale
Vang ý Anticaia Riserva
Vang ý Anticaia Riserva

Rượu vang Ý – Italian wine
6. Rượu vang và mì Ý là một kết hợp hoàn hảo:
Điều gì tuyệt vời hơn một ly rượu vang Ý và một bát mì Ý thịnh soạn? Quy tắc kết hợp rượu vang Ý với thực phẩm khá đơn giản: đỏ cho đỏ, trắng cho trắng. Ví dụ: Một loại mì ống dựa trên cà chua kết hợp độc đáo với rượu vang đỏ trung bình Một món pasta cheesy hoàn toàn phù hợp với rượu vang trắng nồng độ cao hoặc rượu vang đỏ nhẹ Mỳ Ý hải sản có thể kết hợp với cả rượu vang trắng nhẹ và trung bình. Và các món mì ống rau (hoặc thảo mộc) phù hợp với rượu vang trắng nhẹ.
7. Nơi sinh ra rượu vang sủi bọt Prosecco:
Nếu bạn tham dự bất kỳ lễ kỷ niệm, tiệc tùng hay họp mặt xã hội nào, thì có lẽ bạn sẽ được phục vụ prosecco thay cho một thứ đắt hơn một chút. Rượu vang lấp lánh này là đối thủ cạnh tranh mới của rượu sâm banh Ý, giá cả phải chăng và phổ biến hơn và đã đưa Vương quốc Anh vào cơn bão. Vì vậy, đối với những người thưởng thức một hoặc hai ly đồ uống mang tính biểu tượng này, bạn sẽ muốn cảm ơn người Ý!
8. Rượu vang Ý là một hiện tượng toàn cầu:
Trong năm 2016, hơn 225 triệu thùng rượu vang đã được xuất khẩu trên toàn thế giới. Ba quốc gia hàng đầu nhập khẩu rượu vang Ý là: Mỹ, Đức và Anh.
9. Có rất nhiều kho báu ẩn giấu ở Ý:
Một số vùng rượu vang ít được biết đến ở Ý, như Valpolicella và Barolo, rượu vang ngon và đáng để thử nghiệm. Háo hức để trải nghiệm một hương vị của Ý? Nếu bạn muốn thưởng thức nhiều loại rượu vang ngon nhất của Ý, hãy xem cửa hàng trực tuyến của KHORUOU chúng tôi và thử một số loại rượu vang được đề xuất.

Nghiên cứu mới tiếp tục khẳng định vai trò tích cực của Nattospes với người bị nhồi máu não

0

Suckhoedoisong.vn – Mới đây, tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh – Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam,các nhà khoa học đã công bố kết quả nghiên cứu“Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của thực phẩm chức năng viên nang Nattospes trên bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp kết hợp điện châm”do BSCKII Phạm Thủy Phương làm chủ nhiệm đề tài.

Mới đây, tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh – Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam,các nhà khoa học đã công bố kết quả nghiên cứu“Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của thực phẩm chức năng viên nang Nattospes trên bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp kết hợp điện châm”do BSCKII Phạm Thủy Phương làm chủ nhiệm đề tài. Kết quảnghiên cứu đã giúp bệnh nhân nhồi máu não có thêm cơ hội để đẩy lùi bệnh nhờthực phẩm chức năng viên nang Nattospes. Kết quả nghiên cứu khẳng định: Thực phẩm chức năng viên nang Nattospes góp phần tích cực trong việc hỗ trợ điều trị đột quỵ não, người bệnh sẽ có cơ hội mới để cải thiện tình trạng sinh hoạt và phục hồi sức khỏe, tìm lại niềm vui trong cuộc sống sau cú sốc từ cơn đột quỵ não.

Nhồi máu não là một dạng thường gặp nhất của cơn đột quỵ não (chiếm tới 80% tổng số ca đột quỵ). Đột quỵ não (còn gọi tai biến mạch máu não) là tình trạng thiếu máu và oxy đến một phần não khiến các tế bào chết đi, gây tổn thương mô não. Quá trình cung cấp máu đến các vùng não có thể bị gián đoạn bởi cục máu đông gây tắc mạch gọi là hiện tượng nhồi máu não, trong đó nhồi máu não bán cầu trái là tình trạng rất dễ gặp. Cơn đột quỵ cũng có thể xảy ra do hiện tượng vỡ mạch máu (xuất huyết não).

Nhồi máu não do cục máu đông là một dạng thường gặp nhất của cơn đột quỵ não
Đột quỵ não là một bệnh nguy hiểm bởi có nguy cơ gây tử vong cao. Bên cạnh đó, cơn đột quỵ còn để lại các di chứng nặng nề như tàn tật suốt đời, mất khả năng ngôn ngữ, suy giảm nhận thức… Chính vì vậy, việc phòng ngừa, điều trị tích cực là vô cùng cần thiết giúp bảo vệ và duy trì sức khỏe lâu dài, tránh những tổn hại do cơn đột quỵ gây ra.

Hiện nay, y học hiện đại đã đạt được những tiến bộ lớn về dự phòng, chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng cho người bị đột quỵ não. Tuy nhiên, một số loại thuốc còn tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ khi sử dụng, cửa sổ điều trị hẹp, những tai biến nặng nề trong và sau điều trị, chi phí đắt là những vấn đề vẫn chưa có lời giải đối với giới y học. Vì vậy, việc tìm kiếm những sản phẩm từ thiên nhiên có tác dụng hỗ trợ điều trị và dự phòng đột quỵ não an toàn, sử dụng lâu dài là một hướng mới cần được nghiên cứu sâu rộng.

Nghiên cứu đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của sản phẩm Nattospes trên bệnh nhân nhồi máu não đã được các nhà khoa học thực hiện (Ảnh minh họa)

Tin vui cho người bị bệnh và người nhà của họ là mới đây, tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công đề tài: “Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của thực phẩm chức năng viên nang Nattospes trên bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp kết hợp điện châm”. Theo đó, nghiên cứu được thực hiện trên 61 người được chẩn đoán là nhồi máu não tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh – Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam. Nghiên cứu tiến hành can thiệp lâm sàng so sánh trước – sau điều trị, và so sánh với nhóm chứng, nghiên cứu mù đơn; sử dụng phác đồ điều trị nền bằng điện châm + Naatrapyl 1g tiêm trên cả 2 nhóm trong thời gian 60 ngày; nhóm nghiên cứu: điều trị phác đồ nền kết hợp với uống viên nang Nattospes trong thời gian 60 ngày; nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7/2016 đến tháng 12/2017), kết quả cho thấy: Thực phẩm chức năng viên nang Nattospes có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp cho hiệu quả tốt, cụ thể:

Nattospes- Sản phẩm giúp phòng ngừa, hỗ trợ điều trị nhồi máu não hiệu quả

Kết quả phục hồi độ liệt theo phân loại độ liệt của Rankin của nhóm nghiên cứu sau đợt điều trị đạt hiệu quả cao: độ liệt trung bình từ 3.48±0.62 giảm xuống còn 1.48±0.68; tỷ lệ bệnh nhân phục hồi độ liệt đạt loại tốt 77.42%, và khá là 22.58%. Nhóm đối chứng: độ liệt trung bình từ 3.57±0.68 giảm xuống còn 2.30±0.79, tỷ lệ bệnh nhân phục hồi độ liệt đạt loại tốt 26.67%, và khá là 73.33%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0.007 tại thời điểm D­30; p = 0.0001 tại thời điểm D60.Ở nhóm dùng Nattospes, tỷ lệ bệnh nhân phục hồi độ liệt đạt loại tốt sau 60 ngày lớn hơn 3 lần so với thời điểm sau 30 ngày, chứng tỏ, khi sử dụng sản phẩm càng lâu thì mức độ cải thiện độ liệt càng tốt.

Kết quả theo thang điểm Orgogozo (đánh giá chủ yếu về mức độ tổn thương thần kinh) của nhóm nghiên cứu trước điều trị là 46.29±11.78, sau điều trị 30 ngày là 79.52±11.73, sau điều trị 60 ngày là 93.55±4.78, tỷ lệ bệnh nhân đạt loại tốt 87.10%, loại khá là 12.90%. Nhóm đối chứng: Điểm Orgogozo trước điều trị 48.67±11.47, sau điều trị 30 ngày là 70.17±9.96, sau điều trị 60 ngày là 85.17±7.36, tỷ lệ bệnh nhân đạt loại tốt 43.33%, loại khá là 53.33%, loại trung bình 3.33%. Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p=0.0001. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0.002 tại thời điểm D30; p = 0.0001 tại thời điểm D60.Ở nhóm dùng Nattospes, tỷ lệ bệnh nhân phục hồi độ liệt đạt loại tốt sau 60 ngày lớn hơn so với thời điểm sau 30 ngày, chứng tỏ, khi sử dụng sản phẩm càng lâu thì mức độ cải thiện độ liệt càng tốt.

Kết quả theo thang điểm Barthel(đánh giá chủ yếu về tình trạng sinh hoạt) của nhóm nghiên cứu trước điều trị là 33.87±13.72, sau điều trị 30 ngày là 70.32±19.17, sau điều trị 60 ngày là 97.74±3.32. Nhóm đối chứng: điểm Barthel trước điều trị là 34.83±11.58, sau điều trị 30 ngày là 60.17±13.99, sau điều trị 60 ngày là 84.83±8.51, sự khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê với p = 0.0001. Đặc biệt, hiệu quả tốt ở nhóm nghiên cứu là 100%; Nhóm đối chứng: hiệu quả tốt là 83.33%, khá: 10%, trung bình giảm xuống còn 6.67% và không còn bệnh nhân có hiệu quả kém. Sự khác biệt về hiệu quả điều trị giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê tại thời điểm D­30 với p = 0.003. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0.024 tại thời điểm D­30; p = 0.0001 tại thời điểm D60.Ở nhóm dùng Nattospes, tỷ lệ bệnh nhân phục hồi độ liệt đạt loại tốt sau 60 ngày lớn hơn so với thời điểm sau 30 ngày, chứng tỏ, khi sử dụng sản phẩm càng lâu thì mức độ cải thiện độ liệt càng tốt.

Trong quá trình nghiên cứu, chưa thấy tác dụng không mong muốn nào của bệnh nhân khi sử dụng viên nang Nattospes trên lâm sàng và cận lâm sàng, ngoài ra việc kết hợp sử dụng Nattospes giúp cải thiện huyết áp trước và sau điều trị tốt hơn ở nhóm nghiên cứu.

Nhóm nghiên cứu đề xuất, Nattospes nên được đưa vào ứng dụng hỗ trợ điều trị phục hồi chức năng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bị nhồi máu não. Bên cạnh đó, nên nghiên cứu thêm về chế phẩm Nattospes với quy mô lớn hơn để đánh giá toàn diện về tác dụng của chế phẩm, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân nhồi máu não.

Ngoài nghiên cứu trên, sản phẩm Nattospes đã từng được nghiên cứu khoa học tại Học viện Quân y 103 với đề tài: Nghiên cứu tác dụng điều trị của chế phẩm Nattospes trên bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não trong giai đoạn cấp do TS. Nguyễn Minh Hiện, BS. Nguyễn Trí Tuệ thực hiện; Nghiên cứu tại bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 với đề tài: Đánh giá hiệu quả điều trị của sản phẩm Nattospes trên bệnh nhân đột quỵ não do GS.TS Nguyễn Văn Thông, TS. Nguyễn Hoàng Ngọc, BS. Đinh Thị Hải Hà và cộng sự thực hiện; Nghiên cứu tại khoa Y học cổ truyền- Bệnh viện Bạch Mai với chủ đề: Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị và hiệu quả phòng bệnh của Nattospes trên bệnh nhân nhồi máu não được BSNguyễn Công Doanh, BS Nguyễn Thùy Hương, BS Nguyễn Minh Trang thực hiện.

Như vậy, có thể thấy, những kết quả khả quan thu được từ những nghiên cứu khoa học đã làm tăng thêm độ tin cậy, chứng minh tác dụng của thực phẩm chức năng Nattospes trong hỗ trợ điều trị bệnh nhồi máu não sau giai đoạn cấp. Đây là tín hiệu đáng mừng cho bệnh nhân đột quỵ não và tạo tiền đề, nhằm phát triển các nghiên cứu về sau trong điều trị căn bệnh nguy hiểm này.

– TCBC phát hành ngày 13/11/2018

Truy cập trang web: http://dotquynao.com/ để biết thêm thông tin.

GS.TS Trần Văn Thuấn: Trình độ điều trị bệnh ung thư vú của Việt Nam đã ngang tầm thế giới

0

Suckhoedoisong.vn – Nhân dịp GS.TS Trần Văn Thuấn – Giám đốc BV K – đạt giải Nhất cuộc thi Nhân tài đất Việt trong lĩnh vực y dược với “Cụm công trình nghiên cứu Dịch tễ học, ứng dụng các tiến bộ mới trong chẩn đoán, điều trị và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư vú”, phóng viên báo Sức khỏe &Đời sống đã có cuộc trao đổi với GS.TS Trần Văn Thuấn về giải thưởng này.

TTƯT.GS.TS Trần Văn Thuấn
Thứ trưởng Bộ Y tế

Phóng viên: Xin chào GS.TS Trần Văn Thuấn, đầu tiên xin chúc mừng ông vừa đoạt giải Nhất cuộc thi Nhân tài đất Việt – một cuộc thi có uy tín, lựa chọn những người có công trình khoa học có giá trị, có tác động lớn đến đời sống xã hội. Xin ông chia sẻ những cảm xúc của mình khi nhận được giải thưởng này?

GS.TS Trần Văn Thuấn: Tôi rất vinh dự và tự hào khi được thay mặt tập thể nhóm nghiên cứu Bệnh viện K về “Cụm công trình nghiên cứu Dịch tễ học, ứng dụng các tiến bộ mới trong chẩn đoán, điều trị và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư vú” nhận giải Nhất trong cuộc thi Nhân tài đất Việt về lĩnh vực y dược. Tôi cho rằng đây không chỉ là niềm vinh dự tự hào của riêng nhóm nghiên cứu mà là niềm tự hào chung của tập thể cán bộ, nhân viên Bệnh viện K. Kết quả nghiên cứu đã mang lại một dấu ấn quan trọng trong việc đưa trình độ phòng chống ung thư vú tại Bệnh viện K nói riêng và cả nước nói chung lên một tầm cao mới. Qua đó cho thấy trình độ chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư vú tại Việt Nam đã ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới.

GS.TS Trần Văn Thuấn- Giám đốc Bệnh viện K

GS.TS Trần Văn Thuấn- Giám đốc Bệnh viện K
Phóng viên: Ý tưởng nào đã đưa ông và các cộng sự của mình đến cuộc thi về khoa học như Nhân tài đất Việt? Tại sao lại là ung thư vú trong rất nhiều loại ung thư hiện nay?

GS.TS Trần Văn Thuấn: Giải thưởng Nhân tài đất Việt là một giải thưởng uy tín đã được hình thành và phát triển trong 14 năm qua. Những người đã đạt giải thưởng này đều là những nhà khoa học, những nhà nghiên cứu xuất sắc trong từng lĩnh vực liên quan. Chính vì vậy sau khi nhận được thông báo về cuộc thi của Bộ Y tế và Ban tổ chức chúng tôi đã cùng bàn bạc thống nhất trong nhóm nghiên cứu gửi đề tài tham dự giải thưởng. Đây là cụm công trình nghiên cứu toàn diện về ung thư vú bao gồm: dịch tễ học, sàng lọc phát hiện sớm, ứng dụng công nghệ cao trong chẩn đoán, điều trị và chăm sóc cho người bệnh ung thư vú từ các nhà khoa học nhiều thế hệ của Bệnh viện K kết hợp với các nhà khoa học nước ngoài, có thể nêu tên ở đây một số thành viên chính như: GS.TS Trần Văn Thuấn, GS.TS Nguyễn Bá Đức, BS Đặng Thế Căn, PGS.TS Bùi Diệu, PGS.TS Tạ Văn Tờ, PGS.TS Trần Thanh Hương, TS Nguyễn Văn Định, TS Lê Hồng Quang, TS Nguyễn Thanh Đức, TS Nguyễn Tiến Quang, TS Phùng Thị Huyền, TS Đào Văn Tú, Bs Tô Anh Dũng, Bs Nguyễn Công Hoàng và GS. Richard Love ( Trường Đại học Tổng hợp Wisconsin – Hoa Kỳ) . Trong các bệnh ung thư phổ biến chúng tôi lựa chọn căn bệnh ung thư vú vì đây là căn bệnh phổ biến nhất ở nữ giới và theo đánh giá về tiềm năng chúng ta có thể tiếp cận với trình độ ở khu vực và quốc tế.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao Giải Nhất lĩnh vực Y dược cho GS.TS Trần Văn Thuấn- Giám đốc Bệnh viện K

Phóng viên: Được biết cụm công trình nghiên cứu của ông rất đồ sộ, với nhiều nghiên cứu được tiến hành trong nhiều năm, xin ông có thể chia sẻ nội dung chính của cụm công trình nghiên cứu này là gì?

GS.TS Trần Văn Thuấn: Đây là kết quả của 3 đề tài cấp nhà nước, trong đó nòng cốt là đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao trong chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư vú” do cá nhân tôi làm chủ nhiệm, 3 đề tài cấp Bộ Y tế và Hợp tác quốc tế, 2 đề tài cấp cơ sở cùng với 25 đề tài, nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng trong lĩnh vực ung thư vú được tiến hành trong suốt khoảng thời gian từ năm 1994 tới năm 2016.

Qua cụm công trình nghiên cứu này cho thấy xu hướng mắc bệnh ung thư vú ở phụ nữ ngày càng gia tăng, điều đặc biệt là xu hướng mắc bệnh ung thư vú ở phụ nữ Việt Nam trẻ hơn so với nhiều nước. Sàng lọc, phát hiện sớm bệnh ung thư vú bằng phương pháp chụp tuyến vú, nhất là chụp tuyến vú kết hợp với định vị 3 chiều bằng kim dây đã cho kết quả phát hiện ung thư vú rất sớm ngay cả khi bác sỹ chưa sờ thấy u qua thăm khám lâm sàng. Sàng lọc phát hiện sớm cho thấy hiệu quả rõ rệt trong giảm chi phí điều trị và nâng cao tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư vú. Bệnh phát hiện sớm tỷ lệ chữa khỏi lên tới 95%. Ứng dụng kỹ thuật lai tại chỗ gắn huỳnh quang (kỹ thuật FISH) cho phép phát hiện ung thư vú dương tính với yếu tố phát triển biểu mô Her 2 chính xác nhất. Đây là nền tảng quan trọng để ứng dụng các sản phẩm của công nghệ sinh học bằng kháng thể đơn dòng Trastuzumab cho các trường hợp này. Kết quả mang lại hết sức khả quan cho các trường hợp dương tính với Her 2 mà bình thường nếu không có can thiệp của biện pháp này các trường hợp dương tính với gen có tiên lượng rất xấu do bệnh tiến triển nhanh.

Nhờ áp dụng một loạt các tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị bao gồm: phẫu thuật, xạ trị, điều trị hệ thống bằng hóa chất, nội tiết và sinh học đã cho thấy tỷ lệ chữa khỏi do ung thư vú tính chung lên tới trên 70%. Đây là kết quả tương đương với kết quả của Singapore và các nước phát triển trên thế giới. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ người bệnh ung thư vú bị stress lên tới 40,4%. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải chăm sóc và điều trị toàn diện hơn cho người bệnh trong đó có điều trị tâm lý.

GS.TS Trần Văn Thuấn và các cộng sự nhận giải Nhất cuộc thi Nhân Tài đất Việt

Phóng viên: Đến nay những nghiên cứu này được ứng dụng vào thực tiễn như thế nào, đem lại những lợi ích gì cho người bệnh? Trong lĩnh vực phát hiện, chẩn đoán và điều trị ung thư vú, y tế Việt Nam đang ở đâu so với thế giới?

GS.TS Trần Văn Thuấn: Từ kết quả nghiên cứu các đề tài liên quan, bên cạnh các thành tựu thu được chúng tôi đã chuyển giao ngay cho các cơ sở phòng chống ung thư ở Việt Nam, có thể khẳng định hầu hết các cơ sở phòng chống ung thư lớn ở nước ta đều được thừa hưởng thành quả của cụm công trình này. Kết quả lớn nhất của nghiên cứu là đã nâng được tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư vú trước đây dưới 50% nay đã lên đến trên 70% tương đương với các nước phát triển. Điều này khẳng định trình độ khoa học công nghệ về phòng chống ung thư ở Việt Nam đã tiếp cận được với trình độ cao ở các nước phát triển.

Phóng viên: Hiện nay ung thư vú xuất hiện ở những người còn rất trẻ. Ông có lời khuyên gì cho những phụ nữ nói chung và người đang điều trị ung thư vú nói riêng?

GS.TS Trần Văn Thuấn: Như đề cập ở trên tuổi phụ nữ mắc bệnh ung thư vú ở Việt Nam trẻ hơn so với thế giới nên chúng tôi đã khuyên phụ nữ Việt Nam nên đi khám tầm soát phát hiện ung thư vú sớm ở tuổi từ 40 thay vì từ tuổi 45 như ở các nước phát triển . Đặc biệt các chị em phụ nữ có tiền sử gia đình có người mắc bệnh ung thư vú có thể đi khám sàng lọc ở tuổi sớm hơn. Chị em nên có ý thức tốt hơn về sức khỏe của mình trong đó có sàng lọc phát hiện sớm bệnh ung thư vú. Cách đơn giản nhất là chị em có thể học cách tự khám ngực của mình. Nếu chẳng may mắc bệnh ung thư vú thì hãy bình tĩnh vì đây là căn bệnh chúng ta có thể hoàn toàn chữa khỏi khi được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp. Bên cạnh đó thay vì ra nước ngoài điều trị, chị em phụ nữ có thể hoàn toàn tin tưởng vào trình độ của bác sỹ Việt Nam bởi vì chúng ta đã hoàn toàn làm chủ được phương pháp điều trị và kết quả của công trình này một lần nữa đã khẳng định trình độ điều trị bệnh ung thư vú của chúng ta đã ngang tầm thế giới.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn GS!

Hải Yến

Nhận biết mất vững khớp gối do tổn thương dây chằng chéo trước

0

Suckhoedoisong.vn – Đứt dây chằng chéo trước gây nên mất vững trước sau và mất vững xoay của khớp gối gây phiền toái cho người bệnh và là lý do khiến nhiều người bệnh đi khám. Vậy mất vững khớp gối trong đứt dây chằng chéo trước biểu hiện như thế nào và làm sao để biết?

Về chủ quan của người bệnh, mất vững khớp gối gây phiền toái cho người bệnh trong các hoạt động thể lực, bao gồm: người bệnh có cảm giác yếu chân khi đi lại, chạy nhảy; cảm thấy khó chịu khi chạy nhanh, khi đổi hướng đột ngột; cảm thấy khó khăn khi đi xuống dốc hoặc đi xuống cầu thang; cảm thấy đau và khó chịu khi tiếp đất bằng chân bị chấn thương, đặc biệt trong các động tác giống như nhảy lò cò một chân; người bệnh dễ bị ngã khi thực hiện các động tác thể lực: chạy nhanh, đổi hướng đột ngột, nhảy cao…

Về mặt khách quan, người thầy thuốc có thể đánh giá sự mất vững khớp gối của người bệnh bằng các nghiệm pháp thăm khám lâm sàng, bao gồm: nghiệm pháp Lachman trước; nghiệm pháp ngăn kéo trước; nghiệm pháp chuyển trục Pivot shift test.

Nhận biết mất vững khớp gối do tổn thương dây chằng chéo trướcCác hình thái tổn thương của đứt dây chằng chéo trước.

Tuy nhiên, đánh giá mất vững khớp gối như trên là định tính và có phần chủ quan, phụ thuộc vào kinh nghiệm thăm khám của người thầy thuốc, sự phối hợp của người bệnh. Để đánh giá sự mất vững khớp gối, một số biện pháp đã được thực hiện nhằm định lượng sự mất vững khớp gối bao gồm:

Rolimeter: Dụng cụ được thiết kế đơn giản, lượng giá sự mất vững trước sau của khớp gối nhưng độ chính xác thấp.

Máy KT 1000, KT 2000: Đánh giá chính xác mất vững trước sau của khớp gối và có giá trị tin cậy cao nên được các nhà chấn thương chỉnh hình ưa dùng.

Máy Genourob: Có sự hỗ trợ của máy tính, máy Genourob sẽ có 2 loại là GNRB đo di lệch trước sau và ROTAM đo di lệch xoay của khớp gối. Nhược điểm là giá thành cao.

Dùng hệ thống định vị khớp gối để đánh giá mất vững trước sau và mất vững xoay của khớp gối. Nhược điểm là giá thành rất cao.

Đánh giá sự di lệch ra trước của xương chày so với xương đùi trên Xquang dựa vào khung Telos để thực hiện nghiệm pháp ngăn kéo trước nhằm đánh giá sự mất vững trước sau của khớp gối.

Cho đến nay, các nhà phẫu thuật chấn thương chỉnh hình vẫn ưa dùng máy KT 1000, KT 2000 hoặc Xquang ngăn kéo trước lượng hóa với khung Telos để đánh giá sự mất vững của khớp gối trong đứt DCCT. Đánh giá mất vững khớp gối do đứt DCCT là một tiêu chí trong chỉ định mổ và cũng là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả sau mổ. Do vậy, các tiêu chí đánh giá cần phải thực sự khách quan, có như vậy mới làm hài lòng người bệnh cũng như chính thầy thuốc.

BS. Đỗ Văn Minh

Nên làm gì khi đã tiếp xúc với người bệnh lao?

0

Suckhoedoisong.vn – Nếu bạn được nhận định là có tiếp xúc với người bệnh lao, do lao là bệnh truyền nhiễm, có nguy cơ lây nhiễm cao thì có thể bạn đã nhiễm vi trùng gây bệnh lao.

Do đó, bạn nên đi xét nghiệm để kiểm tra xem có nhiễm bệnh lao hoặc đã bị lao ở giai đoạn đầu hay không. Tùy vào kết quả, bác sĩ có thể đề nghị việc chữa trị hoặc theo dõi thêm.

Bệnh lao là gì?
Bệnh lao là một bệnh có thể chữa trị được, và gây ra do nhiễm trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Bệnh này thường ảnh hưởng đến phổi, nhưng đôi khi cũng có thể ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể, như: hạch bạch huyết, thận, xương…

Người ta bị lây nhiễm lao bằng cách nào?
Vi trùng lao bị lan truyền qua không khí khi người mắc bệnh lao trong phổi hoặc trong cổ ho ra, hắt hơi, hát hoặc nói, bắn ra những tia li ti vào không khí. Những người khác có thể hít phải các tia này. Phần nhiều người ta chỉ bị nhiễm lao do lây từ người nào có tiếp xúc nhiều với họ. Rất hiếm khi nhiễm lao từ người nào mà mình chỉ tiếp xúc ngắn ngủi hoặc ngẫu nhiên. Bệnh lao không lan truyền qua các vật dụng trong nhà, như bát đĩa, muỗng, đũa hoặc điện thoại.

Xét nghiệm phát hiện lao. Ảnh: TM
Xét nghiệm phát hiện lao. Ảnh: TM

Làm thế nào để biết được mình đã nhiễm lao hay chưa?
Khi đã từng tiếp xúc với bệnh nhân lao hoặc trong gia đình có người mắc bệnh lao thì cần làm các xét nghiệm gồm:

Xét nghiệm tiêm dưới da để tìm bệnh lao (còn được gọi là xét nghiệm Mantoux). Việc này thực hiện bằng cách tiêm một lượng Tuberculin nhỏ và an toàn bên dưới da ở bên trong cánh tay. Xét nghiệm này có thể cho biết đã bị nhiễm vi trùng lao hay chưa. 2 hoặc 3 ngày sau lần xét nghiệm này, có thể biết kết quả là dương tính hoặc âm tính. Đôi khi có trường hợp cần thử máu hoặc làm thêm xét nghiệm chích tuberculin dưới da để giúp diễn dịch kết quả của lần xét nghiệm đầu tiên.

Chụp quang tuyến ngực cũng có thể cho thấy có dấu hiệu nào về bệnh lao trong phổi. Đôi khi chụp quang tuyến ngực cũng có thể cho thấy dấu hiệu của bệnh lao trước kia, dù cho mọi người không biết rằng trước kia mình đã từng bị lao.

Việc gì xảy ra nếu kết quả xét nghiệm là âm tính?
Nếu kết quả xét nghiệm đầu tiên là âm tính, có thể cần xét nghiệm lần nữa vào khoảng 2 đến 3 tháng sau. Việc này là vì có thể mất vài tuần sau khi tiếp xúc với bệnh lao thì hệ thống miễn dịch của bạn mới có phản ứng với việc xét nghiệm tiêm dưới da. Do đó, nếu được khuyên cần xét nghiệm lần thứ nhì, thì việc rất quan trọng là mọi người hãy xét nghiệm để đảm bảo mình hoàn toàn không bị nhiễm lao. Nếu kết quả lần này vẫn âm tính thì không cần làm xét nghiệm thêm nữa.

Nếu có kết quả xét nghiệm tiêm tuberculin dưới da (Mantoux) là dương tính?
Nếu kết quả xét nghiệm là dương tính, thì nên đến bác sĩ chuyên khoa về bệnh lao, tùy kết quả chụp quang tuyến phổi và các yếu tố khác, mà bác sĩ sẽ tư vấn. Kết quả dương tính của xét nghiệm tiêm tuberculin dưới da có nghĩa là đã nhiễm vi trùng lao. (Đôi khi, kết quả hơi dương tính cũng có thể xảy ra ở những người đã chủng ngừa BCG hoặc vì các lý do nào khác, không liên quan đến việc mắc bệnh lao). Có kết quả xét nghiệm dương tính không nhất thiết có nghĩa rằng bạn đã lây nhiễm do tiếp xúc gần đây với người nào có bệnh lao. Nếu bạn sống ở quốc gia mà bệnh lao phổ biến, thì cũng rất có thể bạn đã bị lây nhiễm cũng khá lâu. Việc lây nhiễm lao (kết quả dương tính khi xét nghiệm tiêm tuberculin dưới da) không có nghĩa rằng bạn bị bệnh lao. Tuy nhiên, việc này có nghĩa là quý vị có nguy cơ chuyển thành bệnh lao. Nguy cơ này nhiều ít ra sao còn tùy nhiều yếu tố gồm cả việc bạn đã bị nhiễm bao lâu (nói cách khác, có phải bạn bị lây nhiễm là do tiếp xúc gần đây với người bị lao hay không), bạn bao nhiêu tuổi và bạn có một số chứng bệnh nào đó hay không. Bác sĩ sẽ nói việc này với bạn.

Nhiễm lao có thể được chữa khỏi không?
Việc nhiễm lao có thể được chữa trị để ngăn chặn việc chuyển thành bệnh lao trong tương lai. Việc chữa trị này thường là uống hàng ngày một trong các loại thuốc dùng để chữa bệnh lao (isoniazid), trong vòng 6 đến 9 tháng. Việc chữa trị có hiệu quả 60% đến 90% trong việc ngăn ngừa bệnh lao ở những người bị nhiễm lao. Việc chữa trị này khá an toàn, nhất là ở những người trẻ. Nếu bạn được bác sĩ khuyên dùng thuốc này, thì họ sẽ giải thích thêm về lợi ích và nguy cơ của việc chữa trị.

BS. Xuân Đồng

Cảm cúm, viêm đường hô hấp – bệnh thường gặp lúc giao mùa

0

Suckhoedoisong.vn – PGS. TS Cao Minh Thành, Trưởng khoa Tai Mũi Họng, BV Đại học Y Hà Nội cảnh báo, trong thời điểm giao mùa, nhiệt độ thay đổi liên tục là lúc các bệnh cảm cúm, viêm đường hô hấp vào mùa. Nếu có những dấu hiệu sớm như hắt hơi, sổ mũi, đau họng, sốt, nhức đầu…. rất có thể người đó mắc cảm hoặc bị nhiễm virus gây viêm đường hô hấp trên.

PGS.TS Cao Minh Thành
Trưởng khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Không chủ quan với cúm
Theo PGS. TS Cao Minh Thành, Trưởng khoa Tai Mũi Họng, BV Đại học Y Hà Nội, nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp cấp tính trên có thể do virus, vi khuẩn và các tác nhân khác. Tuy nhiên thời điểm giao mùa có sự thay đổi về môi trường, nhiệt độ, độ ẩm khiến bệnh đường hô hấp gia tăng. BS Thành cho rằng, bệnh cảm cúm là do nhiễm virus, có nhiều loại virus khác nhau gây nên bệnh lý ở đường hô hấp.

Có một số chủng cúm nguy hiểm, diễn biến nhanh khó lường như cúm A/H5N1… , người bệnh cần được cách ly và điều trị đặc hiệu. PGS Thành giải thích, hiện nay đã xuất hiện biến thể của virus gây bệnh cúm, chúng nhân lên rất nhanh và vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh.

PGS. TS Cao Minh Thành, Trưởng khoa Tai Mũi Họng, BV Đại học Y Hà Nội

Vào mùa này, nhiệt độ chênh lệch lớn giữa ngày đêm, hoặc nhiệt độ đang xấp xỉ 30 độ chỉ trong 1 ngày tụt xuống tới 14 độ, nhiều người không chủ quan, mặc quần áo đủ ấm dễ bị nhiễm lạnh. Người già, trẻ con hoặc người có hệ miễn dịch kém rất dễ mắc các bệnh đường hô hấp.
PGS. Cao Minh Thành cho biết, dấu hiệu sớm của một người bị nhiễm bệnh ở đường hô hấp trên là ho, đau họng, hắt hơi, sổ mũi…. có thể kèm theo sốt, nhức đầu. Đặc biệt với bệnh viêm đường hô hấp do virus người bệnh khởi đầu thường sốt cao, đột ngột, trong khi đó nhiễm bệnh đường hô hấp do vi khuẩn có tiền triệu chứng.

Bệnh hô hấp do virus thường diễn tiến từ 5-7 ngày, sau đó sẽ giảm dần rồi hết. Nếu sau thời gian này bệnh không đỡ mà người bệnh nặng hơn như thay đổi màu sắc dịch ở họng , mũi….. có thể bệnh nhân đã bị bội nhiễm vi khuẩn. Biến chứng của viêm đường hô hấp trên xuất hiện ở những cơ quan lân cận như tai, họng , thanh quản … biến chứng xa hơn là viêm phổi.

Vệ sinh tay chân để phòng nguy cơ mắc bệnh cúm và nhiều bệnh hô hấp khác

Đồng tình với quan điểm của PGS Thành, PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Thúy, Trưởng bộ môn Nhi, Đại học Y Hà Nội cho rằng, năm nào cũng thế, khi giao mùa, tại các bệnh viện rất nhiều trẻ em mắc các bệnh viêm đường hô hấp đến khám. Bên cạnh các nguyên nhân gây viêm đường hô hấp vừa kể trên, nguyên nhân hàng đầu gây bệnh đường hô hấp cho trẻ là nhiễm virus. Bởi vì virus có sẵn khu trú trong cơ thể người nhưng ở thể không hoạt động. Khi thời tiết thay đổi, ở những người già, trẻ nhỏ, người có cơ địa nhạy cảm, virus chuyển từ thể không hoạt động thành hoạt động và gây bệnh. Đa phần các trường hợp trẻ viêm đường hô hấp trên không nặng, nhưng nếu cha mẹ chủ quan, trẻ sẽ biến chứng xuống đường hô hấp dưới, nếu không điều trị bệnh nặng lên dẫn đến viêm thanh, khí quản, phế quản, nặng sẽ bị viêm phổi.

Phòng bệnh cảm cúm, viêm đường hô hấp thế nào cho hiệu quả?
PGS Thành cho biết, cúm có tính dịch, lây qua đường hô hấp. Để phòng bệnh cúm người bị bệnh cần đeo khẩu trang, những người bị cảm cúm nên phòng cảm cúm cho những người xung quanh, nếu phải tiếp xúc với người bệnh cũng cần đeo khẩu trang. Với trẻ nhỏ trong mùa dịch, hoặc ở những khu vực có dịch, trách cho trẻ nhỏ đến những nơi đông người.

Bất cứ người nào muốn phòng cúm cần đảm bảo mặc đủ ấm, ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, chú ý tập luyện hàng ngày…. Là những cách phòng cúm tốt nhất theo PGS Thành.

PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Thúy, Trưởng bộ môn Nhi, Đại học Y Hà Nội

Ngoài các cách trên, PGS Thúy cho biết, cách hiệu quả để phòng nhiễm cúm và một số bệnh hô hấp khác là tiêm vaccine. Trẻ từ 6 tháng trở lên là có thể tiêm vaccine phòng cúm mũi thứ 1, sau đó 1 tháng tiêm mũi thứ 2, cứ 1 năm tiêm 1 lần sẽ phòng bệnh cúm. Ngoài ra còn có một số vaccine phòng bệnh hô hấp khác có trong chương trình Tiêm chủng mở rộng.

Rửa mũi thế nào cho đúng để phòng bệnh?

Cúm hay các bệnh viêm đường hô hấp rất thường gặp, tuy nhiên virus biến chủng khá nhiều, hiện chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. PGS Thúy khuyên, ngoài tiêm phòng như đã nói ở trên, mỗi người cần tự bảo vệ mình bằng nâng cao sức khỏe, với trẻ nhỏ có thể dùng cách vệ sinh mũi họng để phòng bệnh. Chỉ nên rửa mũi họng khi bắt đầu có viêm xuất tiết, không nên lúc nào cũng rửa mũi súc họng, kể cả với. BS Thúy chia sẻ, có trường hợp rửa mũi họng không đúng gây viêm tai vì mũi họng tai thông nhau. Không nên lạm dụng trong thời gian dài.

PGS Thúy hướng dẫn khi rửa mũi cho trẻ, để trẻ nằm nghiêng, bơm nước muối vào mũi để nước muối thông sang mũi kia, làm tương tự với bên kia. Tuy nhiên cũng cần lưu ý bất cứ dung dịch hoặc nước sát khuẩn nào khi dùng cần tuân thủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất, tránh lạm dụng.

PGS TS Nguyễn Thị Diệu Thúy đưa ra những dấu hiệu cha mẹ cần cho trẻ nhập viện:

– Trẻ sốt cao liên tục 3 ngày liền cần đi khám ngay.

– Trẻ bỏ bú, ăn kém.

– Trẻ ngủ kém, khóc nhiều.

– Trẻ mệt mỏi….

Hội chứng “khóa trong” – Vì sao mắc?

0

Suckhoedoisong.vn – Hội chứng bị khóa trong (locked-in syndrome) là một tình trạng thần kinh trong đó cơ thể bị tê liệt hoàn toàn, ngoại trừ mắt.

Hội chứng bị khóa trong (locked-in syndrome) là một tình trạng thần kinh trong đó cơ thể bị tê liệt hoàn toàn, ngoại trừ mắt. Những người này thường có ý thức về môi trường xung quanh nhưng họ “bị khóa chặt”, không thể di chuyển bất kỳ nhóm cơ nào trong cơ thể, chỉ còn giữ lại các cử động mắt của họ. Khả năng nói của họ cũng bị tổn thương và cách giao tiếp hiệu quả nhất của họ là thông qua nháy mắt.

Dấu hiệu điển hình của hội chứng “khóa trong”
Hội chứng bị khóa trong có biểu hiện tất cả các triệu chứng, dấu chứng của tình trạng tê liệt hoàn toàn, làm cho bệnh nhân nằm liệt giường và phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác. Sự khác biệt duy nhất là sự chuyển động của mắt thường được bảo tồn, mặc dù chuyển động mắt có thể được thực hiện đến một mức độ nhất định, một số cá nhân có thể di chuyển đôi mắt của họ lên xuống nhưng không di chuyển được sang một bên. Các dấu hiệu kinh điển của hội chứng bị khóa trong bao gồm không thể có ý thức hoặc tự thực hiện được bất kỳ hoạt động nào sau đây: nhai, nuốt, điều khiển hơi thở, nói, tạo ra bất kỳ vận động nào.

Ban đầu, một bệnh nhân hoàn toàn hôn mê trước khi được chẩn đoán có hội chứng bị khóa trong và khi bệnh nhân dần lấy lại ý thức, họ vẫn bị liệt hoàn toàn ngoại trừ đôi mắt.

Stephen Hawking mắc Hội chứng bị khóa trong. Toàn bộ các nhóm cơ bị khóa chặt, chỉ còn lại cử động mắt.
Stephen Hawking mắc Hội chứng bị khóa trong. Toàn bộ các nhóm cơ bị khóa chặt, chỉ còn lại cử động mắt.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Nguyên nhân gây ra hội chứng bị khóa trong là do tổn thương vùng cầu não, một bộ phận của não bao gồm các sợi thần kinh quan trọng liên quan đến chuyển động tự ý và chuyển thông tin tới các vùng trong não. Khu vực này của não cũng liên quan đến chứng tê liệt lúc đang ngủ, trong đó có các triệu chứng tương tự của hội chứng bị khóa trong, mặc dù chỉ diễn biến thoáng qua.

Trải qua hội chứng bị khóa trong có thể là một trải nghiệm đáng sợ, bệnh nhân không thể di chuyển và nói chuyện có thể mang lại sự lo lắng và sợ hãi, giống như bất cứ ai đã từng bị chứng tê liệt lúc đang ngủ sẽ cảm nhận được các dấu chứng vừa nêu. Tuy nhiên, trong hội chứng bị khóa trong, tổn thương một phần của thân não là nguyên nhân chính. Đây là một rối loạn thần kinh hiếm có ảnh hưởng đến cả nam và nữ ở mọi lứa tuổi.

Cầu não là một cấu trúc của bộ não liên quan đến chuyển tiếp thông tin từ não đến tiểu não. Cầu não chứa các đường thần kinh quan trọng liên quan đến các chức năng như ngủ, hô hấp, nuốt và kiểm soát bàng quang. Thương tổn cầu não sẽ làm phá vỡ những con đường này truyền tải thông tin, gây ra các rối loạn hoạt động chức năng thần kinh của não.

Các thương tổn xảy ra thường do thiếu máu lưu thông đến vùng thân não, xảy ra chủ yếu do tắc nghẽn mạch máu não (nhồi máu não) hoặc chảy máu não khu trú (xuất huyết não), thường do huyết khối hoặc đột quỵ. Các trường hợp liên quan đến chấn thương là rất hiếm nhưng cũng có thể xảy ra.

Sau đây là các nguy cơ có thể dẫn đến hội chứng bị khóa trong: nhiễm trùng một số vùng của não; khối u não; mất myelin xung quanh các tế bào thần kinh; viêm dây thần kinh; xơ cứng teo cơ một bên.

Các rối loạn có biểu hiện giống hội chứng ”khóa trong”
Sự tê liệt của cơ thể có thể được nhìn thấy trong nhiều chứng rối loạn khác và có thể biểu hiện tương tự như hội chứng bị khóa trong. Nắm biết các rối loạn tê liệt khác có thể giúp phân biệt giữa hội chứng bị khóa trong và các dạng tê liệt khác.

Chứng câm bất động (Akinetic mutism): Một tình trạng thần kinh hiếm gặp mà một cá nhân không thể di chuyển (bất động) hoặc nói (câm) nhưng vẫn còn tỉnh táo. Những bệnh nhân này không thể giao tiếp và không có phản ứng. Chứng câm bất động được coi là một trạng thái có ý thức tối thiểu do tổn thương mạch máu hoặc chấn thương chất xám vùng trán giữa.

Hội chứng Guillain-Barre: Một rối loạn tự miễn hiếm gặp, có biểu hiện với suy nhược, tê và ngứa ran. Thông thường, các triệu chứng bắt đầu ở bàn tay, bàn chân và cuối cùng có thể tiến tới tê liệt.

Chứng nhược cơ: Một bệnh thần kinh cơ, thường ảnh hưởng đến các cơ của mắt, mặt và cơ liên quan đến động tác nuốt.

Làm sao chẩn đoán hội chứng bị khóa trong?
Hiện nay, không có xét nghiệm đặc hiệu để chẩn đoán bị hội chứng “khóa trong”. Chủ yếu chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng, dựa vào tìm kiếm các dấu hiệu điển hình và các triệu chứng của rối loạn và có thể loại trừ các dạng khác của tê liệt. Các thử nghiệm khác có thể bao gồm:

Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI): Có thể phát hiện tổn thương cầu não. Việc chụp mạch máu bằng MRI cũng có thể giúp xác định vị trí tắc nghẽn mạch máu nếu nhồi máu là nguyên nhân gây bệnh.

Điện não đồ (EEG): Là thước đo hoạt động điện của não. Giúp xác định hoạt động của điện não và hỗ trợ chẩn đoán hội chứng bị khóa trong. EEG cũng có thể được sử dụng để kiểm tra hoạt động của não khi đáp ứng với kích thích.

Điện cơ đồ và nghiên cứu dẫn truyền thần kinh: Có thể được sử dụng để loại trừ tổn thương do cơ và dây thần kinh.

Cần làm gì khi mắc bệnh?
Không có phương pháp điều trị đặc hiệu nào cho hội chứng bị khóa trong. Hiện nay, chủ yếu tập trung vào việc điều trị bất kỳ nguyên nhân chính nào gây ra sự xuất hiện của hội chứng bị khóa trong. Điều trị có thể bao gồm sử dụng thuốc tiêu huyết khối và các kỹ thuật xâm nhập lấy huyết khối qua đường mạch máu nếu nghi ngờ do nguyên nhân đột quỵ.

Chăm sóc hỗ trợ là điều trị then chốt cho sự phục hồi hội chứng bị khóa trong, thường sử dụng một dụng cụ trợ giúp nhân tạo để thở thông qua mở khí quản ngoài việc cho ăn và uống. Khuyến cáo cần thiết lập sớm hình thức giao tiếp thông qua chớp mắt ngay sau khi chẩn đoán.

BS. Hải Châu

((Theo belmarrahealth))

Đề phòng đột quỵ do rung nhĩ

0

Suckhoedoisong.vn – Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim hay gặp nhất. Rung nhĩ làm tăng tỷ lệ tử vong và biến chứng do tim mạch. Cùng với suy tim, rung nhĩ là một bệnh lý quan trọng mới nổi lên trong các bệnh tim mạch do tuổi thọ của người dân ngày càng tăng cao. Rung nhĩ làm tăng 3-5 lần nguy cơ đột qụy, 3 lần nguy cơ bị suy tim và tăng có ý nghĩa nguy cơ tử vong từ 1,5-3 lần. Nguy cơ đột quị do rung nhĩ luôn cao ở mọi lứa tuổi.

Rung nhĩ có thể xuất hiện mà không do bất kỳ một bệnh lý tim mạch thực tổn nào. Tuy nhiên, thường gặp hơn ở bệnh nhân mắc một bệnh lý tim mạch nào đó như bệnh van tim, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, suy tim… Đôi khi có thể gặp ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, cường giáp hoặc bệnh tim bẩm sinh.

Các yếu tố nguy cơ của rung nhĩ
Kể cả những người có lối sống lành mạnh và không mắc các bệnh lý nào khác cũng có thể bị rung nhĩ. Các yếu tố nguy cơ chính của rung nhĩ bao gồm: tuổi trên 60, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, suy tim, bệnh lý van tim, tiền sử phẫu thuật tim mở, ngừng thở khi ngủ, bệnh lý tuyến giáp, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính, lạm dụng rượu hoặc sử dụng chất kích thích, tình trạng nhiễm trùng hoặc bệnh lý nội ngoại khoa nặng.

Hình ảnh rung nhĩ.

Hình ảnh rung nhĩ.
Triệu chứng của rung nhĩ
Các triệu chứng của rung nhĩ khác nhau tùy từng bệnh nhân, tuy nhiên các triệu chứng chính bao gồm:

Cảm giác mệt mỏi hoặc thiếu năng lượng (thường gặp nhất); Nhịp tim nhanh hơn bình thường và không đều (lúc nhanh lúc chậm); Thở nông; Hồi hộp đánh trống ngực (cảm giác tim đập nhanh, thình thịch, rộn ràng); Khó khăn trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày hoặc giảm khả năng đáp ứng với vận động thể lực; Đau hoặc cảm giác tức nặng ngực; Tiểu tiện nhiều lần.

Chẩn đoán xác định rung nhĩ bằng điện tâm đồ – đây là một xét nghiệm thường quy. Ngoài ra, rung nhĩ có thể được phát hiện nhờ các thiết bị di động gắn trên người bệnh nhân để theo dõi nhịp tim trong khoảng thời gian dài như Holter điện tâm đồ. Bệnh nhân được đeo Holter điện tâm đồ theo dõi nhịp tim trong khoảng từ 1-7 ngày, có khi vài tuần. Các thiết bị này giúp ghi lại nhịp tim cả ngày lẫn đêm, qua đó cung cấp những thông tin chính xác về biến thiên nhịp tim, kể cả khi hoạt động lẫn khi nghỉ ngơi. Điều trị rung nhĩ cần được bắt đầu ngay khi xác định được chẩn đoán.

Điều trị rung nhĩ thế nào?
Kiểm soát tần số thất và chuyển rung nhĩ về nhịp xoang: Trong phần lớn các trường hợp rung nhĩ, digitalis và/ hoặc thuốc chẹn thụ thể bêta giao cảm giúp làm tăng hiệu quả co bóp của tâm thất do làm chậm nhịp tim và có thể phục hồi được nhịp tim bình thường. Các thuốc khác như quinidin sulfat hoặc procainamid có thể được sử dụng thay thế nếu 2 thuốc trên không hiệu quả. Một vài trường hợp rung nhĩ dai dẳng được điều trị bằng sốc điện – người ta dùng một dòng điện phóng vào tim khi người bệnh được giảm đau hoặc gây mê để chuyển nhịp. Khi nhịp tim đã trở về bình thường, cần tiếp tục dùng thuốc duy trì để phòng ngừa rung nhĩ tái phát, nhất là khi bệnh nền là một bệnh mạn tính không thể điều trị triệt để được.

Đối với bệnh nhân rung nhĩ mạn tính, có thể điều trị rung nhĩ qua đường ống thông (catheter ablation). Triệt đốt bằng catheter là phương pháp có hiệu quả và là lựa chọn cho bệnh nhân rung nhĩ có triệu chứng điều trị nội khoa thất bại. Phẫu thuật điều trị rung nhĩ: Phẫu thuật cô lập nhĩ trái (Maze) thường được chỉ định kết hợp với các phẫu thuật tim khác như mổ bắc cầu chủ vành, thay van tim, mổ sửa chữa trong bệnh tim bẩm sinh,… Phẫu thuật sẽ tạo các đường cắt cô lập từng vùng cơ nhĩ, tiểu nhĩ và các tĩnh mạch phổi nhưng vẫn bảo tồn được chức năng dẫn truyền trong nhĩ, nhờ vậy ngăn chặn được sự hình thành các vòng vào lại gây rung nhĩ.

Dự phòng huyết khối phòng chống đột quỵ: Thuốc chống đông dự phòng huyết khối được chỉ định dùng cho tất cả bệnh nhân rung nhĩ, trừ duy nhất trường hợp rung nhĩ đơn độc ở bệnh nhân dưới 60 tuổi (không có bệnh lý tim mạch thực thể kèm theo) hoặc có chống chỉ định dùng thuốc chống đông máu.

Bệnh nhân rung nhĩ có bệnh cơ tim phì đại, hẹp van hai lá hoặc van cơ học phải được điều trị bằng thuốc kháng vitamin K như: wafarin hoặc sintrom.

Bệnh nhân đái tháo đường cần kiểm tra đường huyết thường xuyên để phòng nguy cơ rung nhĩ.

Bệnh nhân đái tháo đường cần kiểm tra đường huyết thường xuyên để phòng nguy cơ rung nhĩ.

Lời khuyên của thầy thuốc
Dù làm chậm nhịp tim hay tái lập lại nhịp xoang có thể làm cho bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn, nhưng những bệnh nhân này vẫn còn nguy cơ cao tai biến mạch não nên những bệnh nhân này vẫn phải sử dụng thuốc chống đông sau đó.

Để hạn chế nguy cơ rung nhĩ cần tăng cường vận động thể lực, không hút thuốc lá; duy trì cân nặng; hạn chế sử dụng rượu bia; điều trị tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường.

BS. Quang Anh

Đau cổ, vai và cách tập luyện

0

Suckhoedoisong.vn – Đau, mỏi cổ vai gáy là biểu hiện rất thường gặp, có khi các biểu hiện này lan dọc theo cánh tay tới bàn tay. Đây thường là hậu quả của hiện tượng quá tải cơ vùng cổ gáy, thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Để phòng và hỗ trợ điều trị thì việc luyện tập là rất cần thiết, nên tiến hành song song với điều trị nguyên nhân gây bệnh.

Nguyên nhân gây đau vùng vai gáy

Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến hội chứng đau vai gáy. Các nguyên nhân thường gặp nhất có thể kể đến là ngồi làm việc, học tập sai tư thế trong thời gian dài, lái xe, làm việc liên tục với máy tính…; Bị nhiễm nóng lạnh đột ngột làm giảm sự cung cấp oxy cho các tế bào cơ, gây thiếu máu cục bộ ở các cơ dẫn đến hội chứng đau vai gáy; Ngoài ra, hội chứng đau vai gáy còn có thể do các bệnh lý như: thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, vẹo cổ bẩm sinh, dị tật, viêm, chấn thương vùng cổ, ung thư, lao, u hố sau… Hay gặp ở những người hay nằm nghiêng, co quắp, ngồi làm việc, sinh hoạt sai tư thế. Khi cơ thể yếu mệt, tốc độ hoạt động của hệ tuần hoàn giảm, việc lưu thông máu và trao đổi oxy trong cơ thể giảm cũng sẽ dễ bị đau nhức khi ngủ dậy. Đôi khi có những trường hợp hội chứng đau vai gáy xuất hiện tự phát mà không có nguyên nhân rõ rệt.

Do diễn biến của bệnh kéo dài, gây khó chịu trong sinh hoạt, khó tập trung trong công việc, các biến chứng hẹp ống sống do thoát vị hoặc do thoái hóa cũng có thể gây yếu tay chân. Vì vậy, ngoài việc dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ thì việc hỗ trợ điều trị bằng cách luyện tập là rất cần thiết.

Bài tập nghiêng cổ hai bên và Bài tập cúi ngửa cổ.

Bài tập nghiêng cổ hai bên và Bài tập cúi ngửa cổ.

Một số bài tập hỗ trợ
Bài tập xoay cổ: Giữ thẳng cổ. Xoay đầu sang một bên tối đa có thể làm được, giữ lại tư thế này khoảng 5 giây. Xoay sang bên đối diện và cũng giữ tư thế này khoảng 5 giây. Mỗi lần tập 5-10 động tác, tập 2-3 lần/ngày.

Bài tập nghiêng cổ hai bên: Giữ thẳng cổ. Nghiêng đầu từ từ sang một bên tối đa có thể làm được. Giữ tư thế nghiêng này khoảng 5 giây. Trở lại vị trí ban đầu, rồi nghiêng sang bên đối diện. Mỗi lần tập 5-10 động tác, tập 2-3 lần/ ngày.

Bài tập cúi ngửa cổ: Giữ thẳng cổ. Từ từ cúi cổ tối đa rồi ngửa cổ tối đa. Mỗi lần tập 5-10 động tác, tập 2-3 lần/ ngày.

Bài tập mạnh cơ cổ: Tập mạnh cơ hai bên cổ bằng cách ngồi giữ thẳng cổ. Dùng bàn tay đặt vào một bên đầu, dùng lực của cơ cổ đẩy nhẹ vào bàn tay này; giữ trong khoảng 5 giây. Đổi bên và cũng làm như vậy và cũng giữ trong khoảng 5 giây. Mỗi bên tập 5-10 động tác, tập 2-3 lần/ngày.

Bài tập mạnh cơ cổ phía sau: Ngồi giữ thẳng cổ, đặt hai bàn tay giữ ở vùng chẩm. Ngửa cổ về phía sau, đồng thời hai bàn tay kéo ngược lại phía trước tạo nên một kháng lực vùng cơ cổ phía sau. Giữ liên tục trong khoảng 5 giây. Mỗi lần tập 5-10 động tác, tập 2-3 lần/ngày.

Bài tập mạnh cơ cổ phía trước: Ngồi giữ thẳng cổ, hai tay đặt trước trán. Cúi đầu về phía trước, đẩy nhẹ vào hai bàn tay, tạo nên kháng lực ở vùng cơ cổ phía trước. Giữ trong khoảng 5 giây. Mỗi lần tập 5-10 động tác, tập 2-3 lần/ngày.

Tự xoa bóp vùng cổ: Cổ hơi cúi nhẹ, dùng 3 đầu ngón tay giữa vuốt dọc vùng cổ từ dưới lên trên theo 3 đường: Dọc 2 khối cơ cạnh cột sống cổ và dọc theo cột sống cổ. Làm 10-15 lần cho mỗi đường, ngày làm 2-3 lần.

Ý nghĩa của việc tập luyện là vô cùng quan trọng, việc tập luyện sẽ đạt được các mục tiêu như: Các khối cơ vùng cổ được chắc khỏe, luôn đều đặn, cân xứng hai bên và không bị co cứng quá mức, không bị mềm nhẽo quá mức. Tư thế cột sống cổ ở đúng trạng thái sinh lý, như thế sẽ giảm được đau, mỏi. Các khoang gian đốt sống và khớp đốt sống được thư giãn, tạo điều kiện cho các mạch máu giãn nở giúp nuôi dưỡng tốt hơn cho cột sống cổ, giúp phòng và chống lại quá trình thoái hóa.

BS. Nguyễn Xuân Thắng

Chẩn bệnh cho teen

0

Suckhoedoisong.vn – Tuổi dậy thì là dấu mốc quan trọng của đời người. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người trưởng thành.

Giai đoạn dậy thì (nam từ 13-18 tuổi, nữ từ 11-15 tuổi) là giai đoạn phát triển thần tốc trong cơ thể. Đây là độ tuổi khỏe mạnh, nhưng do có sự chuyển biến mạnh mẽ trong cơ thể nên cũng dễ gặp phải một số bệnh.

Các bệnh về tâm thần kinh
Rối loạn tâm lý: Tuổi dậy thì là lứa tuổi có rất nhiều thay đổi về tâm sinh lý. Vì thế, các em thường dễ bị tác động bởi chuyện học hành, nhất là khi bước vào mùa thi. Hơn nữa, việc ăn uống và sinh hoạt ngẫu hứng ở lứa tuổi này khiến cho sức khỏe suy giảm, tinh thần mệt mỏi, lo âu, tâm lý bất ổn…Các biểu hiện dễ thấy nhất của rối loạn tâm lý là biếng ăn, mất ngủ, mệt mỏi, dễ cáu gắt, lo âu, học tập giảm sút… Nặng hơn, các em nói năng lung tung, khóc cười vô cớ, dễ hoảng sợ, ngại tiếp xúc với người khác…, thậm chí còn có ý định tự tử.

Stress: Hội chứng stress ở tuổi teen dễ xuất hiện khi gặp khó khăn trong học tập, thi cử, bị điểm kém, bị áp lực từ phía cha mẹ, có mâu thuẫn với bạn bè, rắc rối trong tình cảm. Nếu hội tụ thêm các yếu tố gia đình như: bạo lực, sự bỏ bê, cha mẹ bất hòa hay ly dị… càng khiến teen dễ gặp stress. Nếu không được can thiệp và điều trị sớm, stress sẽ dẫn đến những suy nghĩ tiêu cực trên nền tảng bản lĩnh sống của các em còn non, nên các trường hợp stress nặng dễ có hành vi tự tử.

Đau đầu: Những cơn đau đầu của lứa tuổi teen thường do sự thay đổi đột ngột hoạt động của các neuron thần kinh trong não, hoặc sự thay đổi áp suất trong các mạch máu có nhiệm vụ cung cấp máu lên não. Một số em gái đau đầu khi “đến tháng”, hoặc có cảm giác choáng váng khi đứng dậy… Những dấu hiệu này chỉ là sự phát triển bình thường của sinh lý lứa tuổi. Tuy nhiên, khi cơn đau đầu dữ dội thì cần đi khám ngay vì có thể là dấu hiệu của các bệnh lý ở não.
Rối loạn hành vi: Ngang bướng, ngông nghênh, nói bậy, ăn cắp, đua xe,… là các biểu hiện đa dạng của rối loạn hành vi. Nếu nhẹ thì sẽ thuyên giảm theo thời gian. Tuy nhiên, những rối loạn nặng thường có khuynh hướng trở thành mạn tính, các em rất khó thích ứng với xã hội.

Áp lực học tập là một nguyên nhân khiến các em bị stress.

Áp lực học tập là một nguyên nhân khiến các em bị stress.

Các bệnh khác
Mụn trứng cá: là một bệnh ngoài da thường gặp ở tuổi dậy thì (tỷ lệ mắc trên 80%), ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ và tâm lý giới trẻ, dẫn đến tự ti trong giao tiếp, cáu bẳn, xa lánh bạn bè và nơi đông người, thậm chí có thể bị trầm cảm.

Viêm khớp tự phát thiếu niên: là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, khởi phát bệnh trước 16 tuổi. Đây là nhóm bệnh tự miễn dịch, nguyên nhân gây bệnh chưa được rõ ràng, có diễn biến phức tạp. Bệnh thường khởi phát sau nhiễm virus, Chlamydia mycoplasma, Streptococus, Salmonella, Shigella…

Bệnh ngoài da do nấm: Lang ben là một bệnh ngoài da do vi nấm Pityrosporum orbiculaire gây ra, hay gặp ở lứa tuổi dậy thì nên còn gọi là lang lớn. Bệnh thường tiến triển âm thầm và dai dẳng, dễ tái phát nhiều lần. Thời gian bị bệnh càng lâu thì càng khó chữa. Lang ben rất dễ lây. Ngoài lây lan từ vùng da này sang vùng da khác, bệnh này cũng dễ lây truyền sang người khác. Do đó, khi có dấu hiệu bệnh thì cần đi khám chữa ngay.

Bệnh hắc lào có thể dai dẳng kéo dài hàng năm, gây ngứa nhiều, biểu hiện là các đám tổn thương lúc đầu hơi đỏ, ranh giới rõ rệt, có bờ viền, trên bờ viền có những mụn nước nhỏ, xu hướng lành ở giữa, dần dần lan rộng thành đám có nhiều vòng cung. Do gãi nhiều, chà xát, bôi thuốc linh tinh, tổn thương có thể bị nhiễm khuẩn thứ phát (trợt, rớm mủ, đóng vảy tiết, sưng tấy…) hoặc bị viêm da thứ phát.

Khi thấy có dấu hiệu bất ổn về sức khỏe, cha mẹ nên đưa con đi khám ngay, để có định hướng trị liệu đúng đắn, đặc biệt là các bệnh của hệ tâm thần kinh.

BS. LÊ ANH